Đà Nẵng có từ bao giờ

Đà Nẵng có từ bao giờ? 

(Cho thuê xe máy tại Đà Nẵng). Thuở xưa, Đà Nẵng và Quảng Nam là một. Vùng đất này kéo dài tới Đồ Bàn của nước Đại Chiêm( nay ở vùng Bình Định). Vào cuối thế kỷ 15, là một phần lãnh thổ tân lập của nước ta về phương Nam. Năm 1472, vua Lê Thánh Tông lập đạo Quảng Nam, gồm có 3 phủ, 9 huyện. Phần đất này kéo dài lãnh thổ nước ta về phương Nam, khởi từ đèo Hải Vân (vốn từ trước là ranh giới hai nước Việt – Chiêm), trong đó có khu vực mà ngày nay là thành phố Đà Nẵng. Thế nhưng, trước đó khá lâu, có thể là vào cuối thế kỷ 12 và đầu thế kỷ 15, đã có người Việt vào sống ở khu vực này với người Chiêm Thành. Theo Tộc phả của dòng họ Nguyễn Phi, ông tổ của dòng này đã vào vùng Quảng Nam trước khi vua Lê Thánh Tông đánh bắt Trà Toàn đến những 30 năm; ông đã vào lập nghiệp tại làng Cẩm Lậu tức Cảm Giang, xã Điện Phong bây giờ. Ông có tên là Nguyễn Phi Tu húy Từ Thiện, là con út của Nguyễn Phi Khanh, em út của Ức Trai Nguyễn Trãi. Trong vụ án Lệ Chi Viên năm 1442, Nguyễn Trãi bị tội và thọ hình, Nguyễn Phi Tu sợ liên can vì án tru di tam tộc, đã dẫn con trai vượt đèo Hải Vân vào đất Chiêm Thành trú ẩn sinh sống lập nghiệp. Tộc họ này đã phát triển rộn tại Quảng Nam suốt 5 thế kỷ qua, có từ đường thờ khởi tổ Nguyễn Phi Tu ở xã Điện Phong. Sau khi nhà thờ này bị chiến tranh tàn phá, năm 1989, một từ đường thứ 2 được xây dựng tại thôn Cẩm Phú( Điện Phong). Tộc họ này cũng phát triển rộng tới miền Nam, sinh sôi được 100 hộ gia đình với khoảng 1.000 nhân khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh và cũng có một từ đường riêng tại đường Địa Đạo, phường 18 quận Tân Bình, khánh thành vào tháng 3 năm 1997. Như thế dòng họ Nguyễn Phi được xem là một trong những dòng họ Việt tiên phong vào đât Quảng Nam, nếu không kể là dòng họ đầu tiên có mặt tại vương quốc Chiêm Thành. Do địa thế có nhiều thuận lợi, phần đất ngày nay là thành phố Đà Nẵng đã liên tục phát triển, từ cuối thế kỷ 19. Theo sách “Lịch sử thành phố Đà Nẵng” thì “ mảnh đất này đã nằm trong lãnh thổ của quốc gia Đại Việt, thuộc đạo Hóa Châu được lập ra từ thời Trần Anh Tông và đến đời Lê Thánh Tông ( từ 1446) thì thuộc địa phận của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong thừa tuyên Thuận Hóa.” Theo sách “Ô châu cận lục” do Dương Văn An soạn năm 1533, địa danh “ Đà Năng” xuất hiện lần đầu tiên khi nói đến “ một ngôi đền ở cửa biển Đà Nẵng” thờ một nhân vật sống vào thời vua Lê Thánh Tông. Địa danh Đà Nẵng xuất phát từ tiếng “Đạ Nắk”, theo ngôn ngữ người dân tộc địa phương và cũng có thể là tiếng Chăm. Người dân tộc sống trên dãy Trường Sơn gọi Đà là Đạ, Đạk có nghĩa là nước, song. Nắk là cửa, là lớn, là rộng. Đà Nắk là cửa sông cái, sông lớn. Sông này là sông Hàn của Đà Nẵng. Trên các bản đồ được vẽ từ thế kỷ 16, như An Nam hình thắng đồ, An Nam thông quốc toàn đồ, địa danh Đà Nẵng đã được ghi vào chỗ trên tả ngạn sông Hàn, kề bên cửa biển hiểm yếu. Có bản đồ ghi chữ thiếu nét hoặc viết thành “Đà Nông”. Xa xưa, tên gọi khá rộng rãi trong dân gian về khu vực này gắn liền với sông Hàn, dù rằng đã có sau tên gọi Đà Nẵng: Chợ Hàn. Tên này thấy ghi trên bảo đồ được vẽ vào thế kỷ 17. Tên “Hàn” được nhắc tới ở bài “vè các lái”, hay “ vè thủy trình” tức là những bài ca nghêu ngao của những người đi biển nhắc nhở nhau nhận ra đặc điểm của địa phương đi qua, vào thời có hải bàn và hải đồ, cách nay khoảng hơn 300 năm, thời khai phá vùng đất Nam Bộ. Trong bài ca dài 180 câu thơ theo thể lục bát( gồm 2 bài; Hát Vô(Nam) và bài Hát Ra( từ phương Nam trở về) có những câu: Đến miền cửa Việt sắt hàn hiếm sao. Và Cửa Hàn ngăn sắt sóng reo đầy đầy… Đà Nẵng cửa đặt tuần, ty Đại Chiêm cửa ấy phóng đi một ngày. Hòn Hành nằm đó là nơi cửa Hàn. Cửa Hàn còn ở trong xa Trước mũi Sơn Trà, sau có hòn Nghê. Từ “Hàn” ở đây không có nghĩa là lạnh mà là hàn gắn, dính lại, được sử dụng trong dân gian và văn kiện sách vở, do có liên quan đến một sự kiện lịch sử. Từ “Hàn”này xuất hiện vào thời nhà Mạc . Để chống lại lực lượng hải quân nhà Lê và kể cả Trung Hoa, quân binh nhà Mạc cho đóng chặt các cửa biển. Riêng cửa biển Đà Nẵng vì tính cách quá trọng yếu, thay vì đóng cọc gỗ xuống long sông, quân binh nhà Mạc dung xích sắt giăng ngang sông và hàn gắn lại. Tại các cầu tàu cũng có xích hàn, gọi là hàn xích kiều và tàu neo đậu được cột lại bằng dây xích gọi là hàn xích thuyền. Đến thời nhà Nguyễn, phương cách này vẫn còn được áp dụng. Pierre Loti, nhà văn Pháp, theo chân đội quân viễn chinh xâm chiếm nước ta vào cuối thế kỷ 19, trong bút ký “ Corvée matinale” ( khổ dịch lúc hừng đông ) đã cho biết sự kiện: Vào năm 1884 khi tiến quân vào, ông vẫn trông thấy hang đống xích sắt được thu lại chất đống quanh các pháo đài và ông nhận xét rằng những đống xích đó “ cho thấy ( người Việt Nam) đã dự liệu cản sông không cho chũng ta tiến vào”. Dùng xích chắn cửa sông là một chiến thuật quân sự của ta. Giữa thế kỷ 16, cửa Đà Nẵng đã trở thành một yếu khu được phòng giữ cẩn mật. Có lẽ cửa Hàn đã được quen dung từ đó, về sau thành địa danh thường được nhắc nhở như trong một số câu của hai bài Vè Các Lái, lưu truyền mãi trong giới đi biển và trong dân gian. Chẳng những thế, người Châu Âu cũng thường ghi lại trong các văn kiện liên quan, khi phiên âm Cửa Hàn thành Kean. Vào năm 1615, cố đạo Buzomi đến Đàng Trong, dịp lễ Pâques, ông lập một nhà thờ nhỏ tại một nơi ông ghi tên theo từ này. Địa danh phiên âm ấy cũng được ghi trên bản đồ nổi tiếng của cố đạo Alexandre de Rhodes vẽ vào năm 1666, nằm ở vị trí chân đèo Hải Vân. Nhưng, Kean được phiên âm, có lẽ từ tiếng Kẻ hàn là đúng hơn. Kẻ hàn là tiếng gọi khá phổ biến, theo lối của người Đàng Ngoài. Kẻ có nghĩa là nơi tập trung dân cư đông đảo( như Kẻ chợ có nghĩa là nơi chợ đông đảo, Kẻ Bàng( trong hệ thống Phong Nha – Kẻ Bàng ở Quảng Bình, di sản tự nhiên của thế giới được công nhận năm 2003 – là nơi dân cư đông đảo, rộng lớn – Bàng: từ Việt cổ là rộng lớn) Kean phiên âm từ Kẻ Hàn vì tiếng Pháp không có dấu và chữ “h” không phát âm (h câm = h muet”) Vào thời Pháp thuộc, Đà Nẵng gọi là Tourance. Đây là đơn vị hành chính trong thời gian dài. Từ thế kỷ 16 liên tục tới thế kỷ 18, một số văn kiện cửa người châu Âu như bản đồ, sách vở đã ghi chép những tên phiên âm có liên hệ với nhau hay tương đồng là Turon, Toron, Taraon, Touan, Touane, Touron và Tourane. Đây là những tên phiên âm của người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp… của những thế kỷ trước. Sách “ Lịch sử thành phố Đà Nẵng” viết: “ Có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc của các địa danh này, nhưng đáng chú ý hơn cả là 2 cách giải thích của A. Chapuis (“ Học báo Nam Á Tế Á, số 2, Singapore, tr.263): “ Đà Nẵng, tên Việt gọi là Lưu Tâm (theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn), người Hoa thì gọi là Hiện Cảng. Nhưng tên thật của Đà Nẵng là Cửa Hàn ( Hàn Hải Khẩu). Vì chức quan giữ cửa biển là Thủ Hàn ( còn có thể gọi là Thủ ngự) nên người Bồ Đào Nha mới gọi là Touron, và gọi trệch ra là Tourane(?). Còn có thể kể đến một số giả thiết khác như G. Cordier trong sách “ Bài giảng ngôn ngử tiếng Annam” ( Cuors de langue Annamite) cho rằng Tourane là phiên âm theo cách đọc của người Trung Hoa vùng Hải Nam khi đọc là tou – nam; hoặc của thương nhân Pháp . A. Hausseman trong “Du ký xứ Trung Hoa, Việt Nam, Ấn Độ và Mã Lai( Voyage en chine, Conchinchine, Inde et Malaise, viết năm 1848) giải thích rằng Tourane là địa danh của một nơi vốn có một cái tháp ( tour) trên cửa Hàn. Còn người Trung Hoa ( qua lại và định cư khác sớm và đông đảo ở Hội An, Đà Nẵng) vẫn gọi nơi đây là Hiện Cảng. Chữ “Hiện” theo hai cách viết chữ Hán hoặc có nghĩa là “ Cảng con hến” hoặc “Cảng núi nhỏ mà hiểm”; đều có thể giải thích là do nhận xét hình thù của núi Sơn Trà được nhận thấy ngay từ ngoài khơi cửa biển Đà Nẵng. Ngoài ra, nhân dân địa phương vẫn có thói quan gọi vịnh Đà Nẵng là Vũng Thùng. Tai nghe súng nổ cái đùng, Tàu Tây đã lại Vũng Thùng bữa qua. (ca dao) Còn các nhà Nho nói chữ thì gọi là Trà Úc, Trà Á, Trà Sơn hay Đồng Long Loan. Cho đến thế kỷ 19, địa danh Đà Nẵng là tên gọi một vùng lãnh thổ gắn liền với một cửa biển, một vịnh nước, bao quát một vùng dân cư nằm bên tả ngạn sông Hàn giới hạn từ Thạch Thang tới cầu Thương Chính( nay thuộc khu vực trường Lê Quý Đôn, thành phố Đà Nẵng).
Comments